Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Thương Vợ

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thương vợ” của

Bài làm

Trong Trung đại Việt Nam, các sáng tác viết về vợ thường  rất ít. Không phải người ta không yêu vợ mà có thể tình cảm ấy họ ngại nói ra, ngại giãi bày nhất là đối với các nhà Nho. Trong thời kì ấy, tư tưởng “Trung quân ái quốc” vẫn luôn là thước đo hàng đầu của người trí thức. Bởi vậy, các sáng tác thường đề cao hình ảnh những người anh hừng có chiến công hiển hách cho dân tộc. Người vợ, người phụ nữ là đối tượng ít được quan tân và đề cập đến. Thế nhưng có một trong số ít những nhà thơ  viết về vợ của mình đó là Tế Xương. Tình yêu, sự quan tâm thương xót của ông đối với vợ được thể hiện rõ ràng và cảm động qua bài thơ “Thương vợ”.

Chỉ với tám câu thơ ngắn của thể thơ thất ngôn bát cú chúng ta cũng được tình cảm lớn lao mà Tế Xương dành tặng cho vợ mình, người vợ vẫn lam lũ, tần tảo sớm hôm chăm lo cho gia đình. Mở đầu bài thơ là hình ảnh bà Tú hiện lên với công việc hằng ngày của mình.

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Chỉ một câu thơ cũng đủ để vẽ nên cuộc sống vất vả, cực nhọc biết nhường nào. “Quanh năm” dùng để chỉ sự lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác. Bà Tú làm nghề buôn bán để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống gia đình. Suốt ngày, bà lặn lội nơi “mom sông” để gánh những gánh hàng ra chợ. Ngày này qua ngày khác, công việc đeo bám lấy bà không cho bà nghỉ ngơi dù chỉ là một ngắn ngủi. Bà đầu tấp mặt tối bám trụ ven sông để kiếm đồng tiền mua cơm, mua mắm cho gia đình. Cuộc sống khốn khó ấy đè nặng lên đôi vai mỏng manh của một người phụ nữ đã có tuổi. Bà lam lũ, cực nhọc với công việc để có thể chăm lo cho những thành viên trong gia đình.

Xem thêm:  Trong truyện cổ tích thần kì, thế giới trần tục và thế giới siêu nhiên, nhân vật trần tục và nhân vật siêu nhiên quan hệ qua lại với nhau tạo thành một thế giới cổ tích huyền ảo và thơ mộng. Qua một số truyện đã học, đã đọc, em hãy làm sáng tỏ ý trên

phan tich bai tho thuong vo - Phân tích bài thơ Thương VợPhân tích bài thơ Thương Vợ

Nuôi đủ năm con với một chồng

Cả gia đình bảy miệng ăn đều dựa vào đồng tiền ít ỏi mà bà Tú giành giụm được bằng những tháng ngày vất vả buôn bán ở mom sông. Năm đứa con, đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ mà một phải gánh vác. Con số năm không phải là nhỏ nhưng nó sao có thể bằng số một người chồng. Đây dường như là một điều có vẻ như vô lí nhưng thực ra nó lại là gánh nặng đang đè lên đôi vai bé nhỏ của bà Tú. Nuôi con là trách nhiệm của nhưng chồng thì sao? Chẳng phải chồng là trụ cột, là chỗ dựa cho gia đình hay sao? Nhưng với bà Tú lại khác, bà không chỉ nuôi con mà còn phải nuôi một ông Tú còn tốn kém gấp nhiều lần năm đứa con. Ông không những không làm lụng và phụ giúp với vợ mà còn là người “ăn bám” vào công sức của vợ. Ông Tú lận đận trong , học hành nên đã tốn không ít từ người vợ của mình. Bà không oán trách, không kêu than mà một lòng tình nguyện giúp đỡ chồng thực hiện ước mơ trên . Nhắc đến đây, chắc nhà thơ phải thấy hổ thẹn lắm. Càng hổ thẹn bao nhiêu, ông càng xót, càng thương vợ bấy nhiêu khi bản thân là một người chồng, đã không giúp đỡ vợ mà lại còn trở thành gánh nặng cho vợ mình.

Xem thêm:  Giải thích và chứng minh ý thơ sau đây trích trong bài Hòn đá của Bác Hồ: "Hòn đá to, Hòn đá nặng, Một người nhấc, Nhấc không đặng, Hòn đá to, Hòn đá nặng, Nhiều người nhấc, Nhấc lên đặng"

Hiểu được sự vất vả của vợ, Tế Xương liên tưởng đến hình ảnh con cò

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Tế Xương thương người vợ một mình lam lũ. Cuộc đời bà là chuỗi ngày cô đơn bám trụ nơi ruộng đồng, sông nước. Bà chỉ có một mình, lẻ loi, độc bước. Cũng giống như những chú cò một mình mò mẫm. Một hình ảnh thật khiến người khác phải xót xa, thương cảm. Sau nhưng ngày độc bước nơi quãng vắng, là sự giành giật, bon chen “buổi đò đông”. Nhà thơ sử dụng hai hình ảnh hoàn toàn trái nghĩa nhau giữa sự hoang vắn, đơn độc với sự đông đúc của chuyến đò. Qua đó, nói lên sự vất vả của bà Tú, dù ở hoàn cảnh nào, ở bất cứ đâu, bà vẫn không có được những tháng ngày nghỉ ngơi, thư giãn.

Vất vả là vậy, đắng cay là vậy nhưng bà vẫn chưa một lần kêu than hay oán trách.

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Những số từ được dùng khéo léo theo thứ tự tăng dần. Một, hai, năm, mười cũng là sự gia tăng những vất vả, khó khăn đang đè nặng lên đôi vai người vợ. Thế nhưng, bà cũng chưa bao giờ than trách hay oán hận người chồng “vô dụng”. Những thăng trầm của cuộc sống bà coi đó là số phận, là những gì ông trời định sẵn. Bà chỉ còn biết làn theo không một lời đối kháng. Nắng gió, mưa ngâu..bao khó khan của trời đất, thiên tai bà cũng đều gồng mình vượt qua. Mưa bão hay bà vẫn cần mẫn với công việc của mình mà không một ngày ngừng nghỉ. Hình ảnh bà Tú ngày càng lấy đi biết bao nước mắt và xót thương từ bạn đọc.

Xem thêm:  Nhà thơ Xuân Diệu viết: "Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam". Hãy làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích ba bài thơ thu của ông

Thương vợ, xót vợ nhưng không biết phải làm gì, Tế Xương chỉ biết oán hận thói đời và sự sắp đặt của số phận.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Câu thơ như được thốt ra từ bao cảm xúc dồn nén. Nhà thơ trách cuộc đời tại sao lại bạc bẽo và đối xử bất công với bà Tú như vậy. Bao khó khăn, nặng nhọc tại sao bà lại phải một mình chịu đựng. Chửi đời bao nhiêu ông lại chửi chính bản thân mình bấy nhiêu. Một người chồng đáng nhẽ ra phải là chỗ dựa cho vợ, cho con nhưng ông không làm được gì cả, chỉ làm cho đôi vai vợ mình thêm nặng trĩu. Người chồng như ông thật sự không đáng làm chồng, không nên tồn tại. Ông thương vợ, thương cho những vất vả lo toan của vợ và oán hận chính bản thân mình.

Như vậy, bài thơ “Thương vợ” là  tất cra những tình cảm chân thành và thiết tha nhất mà Tế Xương muốn dành cho vợ mình. Đó là thứ tình cảm xuất phát từ chính trái tim của một người chồng dành cho người vợ lam lũ của mình. Qua đó ta cũng thấy được tình nghĩa vợ chồng cao cả và thiêng liêng của nhà thơ.

Seen